Đất đồi, đất không có khả năng canh tác, trộn xi măng, ép thành gạch. Vẫn là đất nhưng cách xử lý được thay đổi để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sống hiện nay. Câu chuyện về “cũ và mới” nằm ở việc giữ lại vật liệu quen thuộc, khắc phục những hạn chế của cách làm truyền thống.
Nhà trình tường là căn nhà quen thuộc của nhiều gia đình vùng cao, tận dụng chính vật liệu có sẵn tại địa phương để dựng nên ngôi nhà phù hợp với cuộc sống. Qua thời gian, kiểu nhà này vẫn giữ được giá trị riêng trong kiến trúc và đời sống đồng bào.

Xã hội phát triển, điều kiện sống cần cải thiện đặt ra những yêu cầu mới đối với nhà ở. Từ những bức tường đất quen thuộc, việc tìm một cách làm bền chắc hơn, thuận tiện hơn nhưng vẫn giữ được lợi thế của vật liệu đất trở thành hướng cải tiến đáng chú ý.
Những bức tường đất quen thuộc
Ở vùng núi phía Bắc, nhà trình tường là kiểu nhà quen thuộc của người Mông, Dao và Hà Nhì. Mỗi cộng đồng có cách làm khác nhau, nhưng đều gắn với điều kiện địa hình, khí hậu và tập quán cư trú riêng.
Đất được lấy ngay tại địa phương, đắp thành tường rồi lèn chặt. Với nhiều gia đình, đây là cách làm nhà quen thuộc, tận dụng được nguồn vật liệu sẵn có trong điều kiện vùng cao. Nhờ bức tường trình, ngôi nhà của bà con mát hơn vào mùa hè, giữ ấm vào mùa đông, rất phù hợp với điều kiện khí hậu.
(03 ảnh cận tường trình/không gian nhà trình tường)
Không gian nhà trình tường mang theo những dấu ấn riêng của đời sống cộng đồng. Với người Mông, chẳng hạn, cây cột cái trong nhà không đơn thuần để nâng đỡ mái mà còn gắn với quan niệm về sức mạnh và sự thịnh vượng của gia chủ, được truyền qua nhiều thế hệ.
Những bức tường đất, vì thế, trở thành một kiểu nhà phù hợp với vùng cao và giúp lưu giữ cách người dân thích nghi với nơi mình sinh sống.
Hạn chế cố hữu của nhà trình tường truyền thống
Đặc trưng, truyền thống là thế, nhưng những ngôi nhà trình tường truyền thống vẫn có vài điểm hạn chế cố hữu.
Nhà trình tường được làm chủ yếu bằng phương pháp thủ công, dựa nhiều vào kinh nghiệm chọn đất và cách đầm nén. Cách làm này phù hợp với điều kiện trước đây, nhưng khiến chất lượng tường không đồng đều và dễ xuống cấp theo thời gian.
Đất sau khi được đắp và nén có thể co lại khi khô, tạo ra những vết nứt trên tường, thậm chí có trường hợp nứt xuyên tường. Bên ngoài, nước mưa tác động lâu ngày có thể làm xói chân tường, gây lún và nứt.
(03 ảnh cận những hạn chế)
Ngoài ra, để tường đủ chắc và chịu được trọng lượng của chính mình, tường trình thường phải làm khá dày. Điều này khiến ngôi nhà sử dụng nhiều đất, trong khi khả năng chịu lực của tường vẫn chưa cao.
Những hạn chế trên đặt ra lo ngại về độ bền và an toàn của nhà ở trong quá trình sử dụng.
“Hiện đại hóa” cách xử lý đất
Hạn chế trong cách làm truyền thống phần nào cho thấy vật liệu đất cần một cách xử lý khác. Không làm mất đi giá trị của nhà trình tường, giải pháp mới là giữ lại đất tại chỗ, gia cố bằng xi măng và tạo thành những viên gạch đất không nung tự chèn.
Điểm mới nằm ở cách xử lý đất và cách đưa vật liệu này vào xây dựng, để những giá trị quen thuộc có thể tiếp tục được giữ lại trong một cách làm phù hợp hơn với hiện tại.
(01 ảnh đất)
Cụ thể, việc “hiện đại hóa đất” được thể hiện từ chính khâu xử lý vật liệu. Đất đồi, đất không có khả năng canh tác được trộn với xi măng và nước, sau đó đưa vào máy ép thủy lực để tạo thành viên gạch. Thay vì sử dụng trực tiếp đất để trình tường, những công đoạn trên giúp vật liệu đất có độ ổn định tốt hơn.
(03 ảnh gạch/làm gạch)
Với cách làm này, cái cũ không bị thay thế hoàn toàn, gạch vẫn sử dụng nguồn đất quen thuộc nhưng cách tạo hình và thi công được thay đổi.
Kế thừa giá trị của nhà trình tường truyền thống, gạch đất không nung ra đời và trở thành một phần của giải pháp nhà ở an toàn – bền vững cho đồng bào vùng cao.
Câu chuyện về “cũ và mới” giờ đây là bài toán kế thừa và phát triển. Giữ lại vật liệu đất vốn gần gũi với bà con, đồng thời thay đổi để khắc phục những hạn chế về nứt, xuống cấp và khả năng chịu lực của tường trình.
Box thông tin:
Theo nghiên cứu của các giảng viên Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, những ngôi nhà sử dụng loại gạch đất không nung dạng tự chèn có tuổi thọ có thể lên tới 20 năm, đáp ứng yêu cầu về độ bền và an toàn trong quá trình sử dụng.
– Thùy An –